Tư vấn miễn phí | Email: contact@ngheketoan.edu.vn

Chi tiết về nguyên lý kế toán


KIẾN THỨC NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN

I.Tổng quan về kế toán

Kế toán là một lĩnh vực của khoa học kinh tế, là một chức năng không thể thiếu cùng với các chức năng tài chính, sản xuất, marketing và nhân sự trong công tác quản trị của mọi tổ chức. Kế toán là gì và bản chất của nó như thế nào luôn là câu hỏi đầu tiên đối với những ai bắt đầu nghiên cứu lĩnh vực khoa học này.

Từ thuở sơ khai, loài người đã biết sử dụng các cách thức đo lường, ghi chép, phản ánh được tiến hành bằng những phương thức đơn giản, như: đánh dấu trên thân cây, ghi lên vách đá, buộc nút trên các dây thừng… để ghi nhận những thông tin cần thiết. Về sau các loại sổ sách đã được sử dụng để ghi chép thay cho cách ghi và đánh dấu thời nguyên thủy. Các sổ sách này đã được cải tiến và chi tiết hơn trong thời kỳ phong kiến để đáp ứng với những phát triển mạnh mẽ trong các quan hệ kinh tế trong cộng đồng.

Để đơn giản hóa vấn đề, tôi có ví dụ sau:

Chủ doanh nghiệp ABC mua một máy in 16,5 triệu (tổng tiền thanh toán đã có thuế)  bằng tiền gửi ngân hàng dùng cho phòng nhân sự.

Với sự kiện phát sinh như trên, nhân viên kế toán sẽ phải làm những gì?

Ngày nay với sự hỗ trợ của các phần mềm kế toán, công việc của kế toán chính là phản ánh nghiệp vụ "mua máy in" bằng ngôn ngữ đặc thù của kế toán thông qua hệ thống các tài khoản, sau đó phần mềm sẽ tự động cập nhật lên các sổ kế toán.

Mở đầu làm quen có thể hiểu về kế toán nôm na như vậy, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa được nêu bởi Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC): "Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp và trình bày kết quả theo cách riêng có dưới hình thái tiền đối với các sự kiện nghiệp vụ có tính chất tài chính";

1. Các khái niệm của kế toán

1.1. Đơn vị kế toán

1.1.1. Khái niệm đơn vị kế toán

Chúng ta hay nhắc đến "Đơn vị kế toán A", "Đơn vị kế toán B", vậy đơn vị kế toán là gì?

Đơn vị kế toán là đơn vị kinh tế có tài sản riêng, chịu trách nhiệm sử dụng và kiểm soát tài sản đó và phải lập báo cáo kế toán.

Đơn vị kế toán có thể là đơn vị hoạt động vì lợi nhuận (doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ; ngân hàng; các công ty bảo hiểm , công ty tài chính,…) hoặc hoạt động phi lợi nhuận (trường học, bệnh viện, nhà thờ,…)

Một pháp nhân kinh tế là một đơn vị kế toán nhưng ngược lại không phải mọi đơn vị kế toán đều có tư cách pháp nhân.

1.1.2. Nội dung

Trong quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán phải có sự tách biệt giữa các đơn vị kế toán.

Sự tách biệt này chỉ ra rằng mỗi một đơn vị kế toán đều có hệ thống báo cáo kế toán riêng biệt của nó. Kế toán của đơn vị nào phải đứng trên góc độ của đơn vị đó để thực hiện việc thu nhận, xử lý, và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính.

Trong quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán phải có sự tách biệt giữa đơn vị kế toán với các bên liên quan.

Điều này phản ánh, kế toán chỉ ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế - tài chính của đơn vị kế toán, không phản ánh sự kiện kinh tế của các bên liên quan như chủ sở hữu, nhà quản lý, người lao động,… Bất kể chủ sở hữu đơn vị kế toán chịu trách nhiệm vô hạn hay hữu hạn với các nghĩa vụ nợ thì kế toán vẫn phải tách biệt tài sản của đơn vị đó với tài sản cá nhân của chủ sở hữu.

1.2. Thước đo tiền tệ

1.2.1. Khái niệm

Kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để phản ánh toàn bộ nguồn lực của đơn vị dưới dạng giá trị và giúp người sử dụng thông tin có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị đó.

Vậy thước đo tiền tệ là thước đo sử dụng để đo lường các đối lượng quản lý kinh tế dưới dạng giá trị.

Áp dụng với ví dụ "mua máy in 16,5 triệu"  ban đầu, sử dụng thước đo giá trị, kế toán thể hiện thông tin dưới dạng giá trị là 16,5 triệu.

1.2.2. Nội dung

- Các đối tượng kế toán và những giao dịch ảnh hưởng đến chúng phải được kế toán đo lường bằng thước đo giá trị. Bởi vì, giá trị là linh hồn của hạch toán kế toán, thể hiện bản giá trị kinh tế của sự kiện phát sinh.

- Đồng tiền ở được kế toán sử dụng trong giao dịch được gọi là đồng tiền kế toán. Thông thường, đồng tiền kế toán ở mỗi quốc gia là đồng tiền của quốc gia đó (hay nội tệ). Tuy nhiên đồng tiền kế toán cũng có thể là ngoại tệ.

- Các sự kiện và giao dịch có thể phát sinh bằng nội tệ hoặc ngoại tệ. Điều này có nghĩa là, nếu sự kiện kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ, kế toán phải quy đổi về nội tệ hay đồng tiền kế toán theo tỷ giá nhất định.

1.3. Kỳ kế toán

Kỳ kế toán là khoảng thời gian xác định từ thời điểm đơn vị kế toán bắt đầu ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khóa sổ kế toán để lập báo cáo tài chính.

Độ dài lớn nhất của kỳ kế toán là năm được gọi là niên độ kế toán, thông thường phù hợp với niên độ tài chính quốc gia, có thể không trùng với năm dương lịch.

Các độ dài còn lại của kỳ kế toán như:

Kỳ kế toán quý: là ba tháng, tính từ ngày 01 tháng đầu quý đến ngày cuối cùng của tháng cuối quý.

Kỳ kế toán tháng: là một tháng, tính từ ngày 01 đầu tháng đến ngày cuối cùng của tháng.

2. Các nguyên tắc cơ bản của kế toán

* Nhóm các nguyên tắc là cơ sở cho việc tính giá các đối tượng kế toán

Nguyên tắc giá gốc: Nguyên tắc giá gốc là nguyên tắc kế toán theo đó các đối tượng kế toán được ghi nhận theo giá gốc ban đầu khi hình thành và không cần điều chỉnh theo sự thay đổi của giá thị trường trong suốt thời gian tồn tại của đối tượng kế toán đó ở đơn vị kế toán.

Ví dụ: Mua một lô hàng nhập kho ngày 1/12/N với giá 120 triệu và chưa xuất kho trong năm N. Tại ngày 31/12/N giá thị trường của lô hàng này là 110 triệu, Theo nguyên tắc giá gốc, kế toán vẫn ghi nhận giá trị của lô hàng hóa đó trên báo cáo kế toán ngày 31/12/N là 120 triệu.

Nguyên tắc giá thị trường:là nguyên tắc kế toán theo đó trị giá của các đối tượng kế toán được ghi nhận trên báo cáo theo giá thị trường. Trong ví dụ trên, kế toán sẽ ghi nhận giá trị của lô hàng hóa trên báo cáo kế toán ngày 31/12/N là 110 triệu đồng.

Nguyên tắc giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường: là nguyên tắc kế toán theo đó kế toán chọn giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường để phản ánh các đối tượng kế toán trên báo cáo kế toán. Với ví dụ trên, giá trị của lô hàng hóa hóa ghi nhận trên báo cáo kế toán ngày 31/12/N là 110 triệu đồng.

* Nguyên tắc kế toán là cơ sở ghi nhận và đo lường thu nhập, chi phí, kết quả hoạt động

Nguyên tắc kế toán tiền: là nguyên tắc kế toán theo đó thu nhập, chi phí được kế toán ghi nhận khi và chỉ khi đơn vị kế toán thu hoặc chi tiền đối với các giao dịch liên quan thu nhập và chi phí.

Tiếp tục với ví dụ trên, 50% lô hàng được xuất ra để bán trong năm N+1 với tổng giá bán thực tế là 150 trđ, trong đó khách hàng trả ngay 120 trđ, còn 30 trđ khách hàng sẽ trả vào năm N+2. Theo nguyên tắc kế toán tiền, doanh thu năm N+1 của lô hàng trên được kế toán ghi nhận là 120trđ.

Nguyên tắc kế toán dồn tích: là nguyên tắc kế toán theo đó thu nhập và chi phí được kế toán ghi nhận khi chúng phát sinh và đủ điều kiện ghi nhận là thu nhập và chi phí mà không nhất thiết phải gắn với dòng tiền thu hoặc chi; trong ví dụ trên, kế toán ghi nhận doanh thu năm N+1 của lô hàng hóa đã bán là 150trđ.

Nguyên tắc kế toán phù hợp: là nguyên tắc theo đó thu nhập và chi phí của đơn vị kế toán phải được ghi nhận một cách tương ứng trong cùng kỳ kế toán nhằm đảm bảo việc xác định kết quả của kỳ kế toán được chính xác và tin cậy.

Nguyên tắc phù hợp chỉ được trong điều kiện doanh nghiệp áp dụng nguyên tắc kế toán dồn tích.

Áp dụng với ví dụ trên, năm N+1 xuất bán 50% lô hàng, theo nguyên tắc phù hợp, chi phí được ghi nhận tương ứng với doanh thu năm N+1 là 50%×120trđ=60trđ.

Nguyên tắc trọng yếu: trong ghi nhận và đo lường thu nhập, chi phí, kết quả cho phép kế toán đơn giản hóa những sự kiện có ảnh hưởng không quan trọng đến kết quả.

Ví dụ, công cụ dụng cụ là loại tư liệu lao động nhỏ không đủ tiêu chuẩn ghi nhận là tài sản cố định nhưng lại có đặc điểm vận động tương đối giống tài sản cố định ở sự dịch chuyển dần giá trị vào chi phí hoạt động từng kỳ và vẫn giữ hình thái vật chất ban đầu. Theo nguyên tắc kế toán phù hợp, giá trị công cụ được sử dụng trong nhiều niên độ kế toán cũng phải được kế toán phân bổ vào chi phí của từng kỳ. Tuy nhiên, do giá trị công cụ, dụng cụ lao động tương đối nhỏ nên để đảm bảo tính hiệu quả, kế toán có thể áp dụng nguyên tắc trọng yếu và tính một lần giá trị của công cụ vào chi phí của một kỳ và điều này không tạo sự biến động lớn của kết quả hoạt động kỳ đó.

*Nhóm nguyên tắc kế toán là cơ sở định tính cho thông tin kế toán

Nguyên tắc khách quan: theo nguyên tắc này, thông tin kế toán phải được thu nhận, xử lý, cung cấp trên cơ sở có các bằng chứng để chứng minh các nghiệp vụ kinh tế- tài chính phát sinh và hoàn thành. Điều này nhằm đảm bảo thông tin kế toán không bị chi phối bởi khuynh hướng chủ quan của người làm kế toán.

Nguyên tắc nhất quán: nhằm đảm bảo thông tin kế toán có giá trị so sánh. Tính nhất quán cần được duy trì trong việc áp dụng các nguyên tắc kế toán, các phương pháp đo lường, ghi nhận các giao dịch cùng bản chất trong hoàn cảnh tương tự.

Ví dụĐể có thể dễ dàng so sánh đối chiếu, kế toán cần áp dụng nhất quán một phương pháp khấu hao TSCĐ giữa các kỳ kế toán, trường hợp có thay đổi, đơn vị cần giải trình và trình bày lí do thay đổi trong thuyết minh BCTC.

Nguyên tắc thận trọng: xuất phát từ yêu cầu về tính tin cậy của thông tin kế toán; Nguyên tắc thận trọng đặt ra yêu cầu cơ bản đối với việc ghi nhận sự tăng (giảm) vốn chủ sở hữu và do đó có ảnh hưởng nhất định đến việc ghi nhận thu nhập và chi phí. Như vậy, theo nguyên tắc này, kế toán sẽ ghi nhận sự tăng lên của vốn chủ khi và chỉ khi có chứng cứ chắc chắn. Ngược lại, sự giảm đi của vốn chủ sẽ được kế toán ghi nhận ngay khi có chứng cứ có thể.

3. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán

3.1. Nhà quản lý đơn vị

Những người này cần nắm được các thông tin về tình trạng tài chính, tình hình hoạt động và luồng tiền… của đơn vị nhằm thực hiện kế hoạch và kiểm soát các hoạt động của đơn vị kế toán

3.2.Chủ sở hữu

Là người cấp vốn cho đơn vị dưới hình thức đầu tư chịu rủi ro cao nhất, bởi vì lợi ích của họ phụ thuộc vào kết quả hoạt động của đơn vị; bởi vậy, nhu cầu thông tin của họ thường có phạm vi rộng hơn so với chủ nợ và các đối tượng khác.

3.3. Chủ nợ

Là những nhà cấp tín dụng cho đơn vị dưới dạng cho vay; hoặc tín dụng thương mại… Đơn vị đi vay có đủ khả năng thanh toán hay không là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các chủ nợ. Bên cạnh đó, khả năng sinh lời cũng là một chỉ tiêu mà các chủ nợ chú trọng khi đánh giá Báo cáo tài chính của đơn vị đi vay.

3.4. Chính phủ

Chính phủ can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế ở một mức độ nhất định. Những thông tin làm cơ sở cho việc ra quyết định, trong đó có thông tin kế toán đối với cơ quan đại diện của Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hành toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

3.5. Các đối tượng khác

Các đối tượng khác có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán gồm người lao động, tổ chức công đoàn, các tổ chức kiểm toán, công chúng,…

Mục đích sử dụng, và mức độ nhu cầu thông tin của các đối tượng có thể khác nhau giữa các nhóm và giữa các đối tượng trong nhóm, song cũng có những điểm chung nhât định như: các thông tin tình hình tài chính, tình hình và kết quả hoạt động, tình hình lưu chuyển tiền tệ và những thông tin chung khác của đơn vị kế toán.

4.Vai trò và yêu cầu của thông tin kế toán

4.1. Vai trò của kế toán trong hệ thống quản lý kinh tế

- Kế toán phục vụ quản lý vĩ mô của Nhà nước

- Kế toán phục vụ quản lý vi mô của người điều hành đơn vị

- Kế toán hỗ trợ cho các công cụ quản lý khác

4.2. Yêu cầu đối với thông tin kế toán

4.2.1. Tính tin cậy

Thông tin kế toán thỏa mãn tiêu chuẩn tin cậy khi đáp ứng được các yêu cầu: Trung thực và khách quan; Trung lập; Thận trọng; Thẩm định được.

4.2.2.Tính hữu ích

Được hiểu là khả năng thỏa mãn tối đa nhu cầu thông tin kế toán cho đối tượng sử dụng nhất định trong việc ra quyêt định kinh tế cụ thể. Thông tin kế toán đảm bảo hữu ích khi đáp ứng được các tiêu chuẩn: Tính kịp thời; Tính đầy đủ và dễ hiểu; Có giá trị so sánh, đánh giá quá khứ và dự đoán tương lai; Tính hiệu quả.

II. Các yếu tố cơ bản của Báo cáo tài chính

1. Khái quát các thông tin cơ bản về Báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của quy trình kế toán;trong đó các thông tin kinh tế được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu, cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp đáp ứng các cầu cho những người sử dụng chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế.

Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

1.                 Tài sản;

2.                 Nợ phải trả;

3.                 Vốn chủ sở hữu;

4.                 Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác;

5.                 Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;

6.                 Các luồng tiền.

 Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bản thuyết minh Báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các Báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ.

*Nếu doanh nghiệp hoạt động theo thông tư 133/2016/TT-BTC, các báo cáo bắt buộc gồm:

- Báo cáo tình hình tài chính (Mẫu số B01a – DNN)

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 – DNN)

- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính (Mẫu số B09 – DNN)

* Nếu doanh nghiệp hoạt động theo thông tư 200/2014/TT-BTC, các báo cáo bắt buộc bao gồm:

+) Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B 01-DN)

+)Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B 02 – DN

+)Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B 03 – DN

+)Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mẫu số B 09 – DN

* Nếu doanh nghiệp hoạt động theo quyết định 48/QĐ-BTC, các báo cáo bắt buộc bao gồm:

+) Bảng Cân đối kế toán: Mẫu B 01 – DNN

+) Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh: Mẫu B 02 – DNN

+) Bản Thuyết minh báo cáo tài chính: Mẫu B 09 – DNN

+) Bảng Cân đối tài khoản: Mẫu số F 01- DNN

*  Nếu doanh nghiệp hoạt động theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC:

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B 02 - DN

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B 03 - DN

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B 09-DN

*Thời hạn nộp báo cáo tài chính

+) Đối với doanh nghiệp nhà nước

a) Thời hạn nộp Báo cáo tài chính quý:

- Đơn vị kế toán phải nộp Báo cáo tài chính quý chậm nhất là 20 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán quý; Đối với công ty mẹ, Tổng công ty Nhà nước chậm nhất là 45 ngày;

- Đơn vị kế toán trực thuộc doanh nghiệp, Tổng công ty Nhà nước nộp Báo cáo tài chính quý cho công ty mẹ, Tổng công ty theo thời hạn do công ty mẹ, Tổng công ty quy định.

b) Thời hạn nộp Báo cáo tài chính năm:

- Đơn vị kế toán phải nộp Báo cáo tài chính năm chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm; Đối với công ty mẹ, Tổng công ty nhà nước chậm nhất là 90 ngày;

- Đơn vị kế toán trực thuộc Tổng công ty nhà nước nộp Báo cáo tài chính năm cho công ty mẹ, Tổng công ty theo thời hạn do công ty mẹ, Tổng công ty quy định.

+)  Đối với các loại doanh nghiệp khác

a) Đơn vị kế toán là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh phải nộp Báo cáo tài chính năm chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm; đối với các đơn vị kế toán khác, thời hạn nộp Báo cáo tài chính năm chậm nhất là 90 ngày;

b) Đơn vị kế toán trực thuộc nộp Báo cáo tài chính năm cho đơn vị kế toán cấp trên theo thời hạn do đơn vị kế toán cấp trên quy định.

Để có thể hiểu chi tiết hơn về Báo cáo tài chính, các bạn có thể tra cứu chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp đang áp dụng trong chuyên mục hệ thống văn bản PLKT của chúng tôi.

2. Các yếu tố cơ bản của Báo cáo tài chính

Về thực chât các yếu tố này chính là các đối tượng kế toán được phản ánh trên các báo cáo tài chính nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin chung cho tất cả các đối tượng sử dụng.

Các yếu tố cơ bản của BCTC gồm:

+) Yếu tố về tình hình tài chính (phản ánh trên Bảng cân đối kế toán): Tài sản, Nợ phải trả, vốn chủ sở hữu.

+) Yếu tố về tình hình hoạt động: (phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động): thu nhập, chi phí, kết quả.

2.1. Tài sản

2.1.1.Khái niệm và các điều kiện ghi nhận Tài sản

Tài sản là nguồn lực kinh tế do đơn vị kế toán kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.

Tài sản có thể tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể hoặc không có hình thái vật chất cụ thể.

Dù tồn tại dưới bất kỳ hình thái nào, tài sản được kế toán ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán đều phải thỏa mãn các điều kiện:

(1)              Có khả năng tiền tệ hóa một cách đáng tin cậy:

(a) Lượng hóa được dưới dạng tiền

(b) Giá trị được xác định một cách đáng tin cậy

(2)              Đơn vị kế toán kiểm soát được:

(a)               Đơn vị thu được phần lớn lợi ích kinh tế hợp pháp và gánh chịu phần lớn rủi ro từ việc sử dụng nguồn lực đó; và

(b)              Hạn chế được sự tiếp cận của các đối tượng khác đối với lợi ích kinh tế từ nguồn lực đó.

Bên cạnh đó, lợi ích kinh tế được mang lại từ những nguồn lực do đơn vị kiểm soát và sử dụng mà đơn vị không nhất thiết phải sở hữu chúng. Điều này không nhấn mạnh tính sở hữu của đơn vị kế toán đối với tài sản.

(3)              Mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai một cách tương đối chắc chắn cho đơn vị kế toán: theo điều kiện này, tài sản phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai chứ không phải tạo ra lợi ích kinh tế của kỳ hiện tại.

(4)              Là kết quả của giao dịch quá khứ:

Kế toán chỉ phản ánh những tài sản là kết quả của các nghiệp vụ kinh tế- tài chính đã phát sinh và hoàn thành, không phản ánh những tài sản được hình thành trong tương lai.

2.1.2. Phân loại tài sản

a.Tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn bao gồm các nhóm: vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, tài sản trong thanh toán và hàng tồn kho.

Nhóm vốn bằng tiền bao gồm các khoản: Tiền mặt, tiền đang chuyển, tiền gửi ngân hàng.

Nhóm các khoản đầu tư ngắn hạn: gồm những khoản đầu tư tài chính với thời gian thu hồi vốn trong vòng 1 năm hay một chu kỳ hoạt động bình thường.

Nhóm tài sản thanh toán (còn gọi là các khoản phải thu): gồm các tài sản của đơn vị kế toán đang trong quá trình thanh toán, phải thu hồi dưới những hình thức khác nhau với thời gian đáo hạn trong vòng 1 năm.

Nhóm hàng tồn kho: là những tài sản dự trữ cho các quá trình hoạt động của đơn vị kế toán, bao gồm tài sản được giữ để bán trong kỳ hoạt động bình thường (hàng hóa); tài sản đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang (sản phẩm dở dang, nửa thành phẩm); tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất (nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ).

Nhóm tài sản ngắn hạn khác: gồm tài sản ngắn hạn không được phân loại vào nhóm các tài sản ngắn hạn ở trên.

b. Tài sản dài hạn

Tài sản dài hạn bao gồm các nhóm: Phải thu dài hạn, tài sản cố định và bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các khoản tài sản dài hạn khác.

Nhóm phải thu dài hạn: gồm những tài sản trong thanh toán có thời gian đáo hạn trên 1 năm.

Nhóm tài sản cố định và bất động sản đầu tư: gồm tài sản cố định và bất động sản đầu tư.

Nhóm đầu tư tài chính dài hạn: là khoản đầu tư vào các hoạt động tài chính với thời hạn thu hồi vốn trên 1 năm hoặc 1 chu kỳ hoạt động thông thường.

Nhóm các khoản tài sản dài hạn: gồm những tài sản dài hạn không thuộc nhóm tài sản dài hạn nêu trên.

2.2. Nợ phải trả

2.2.1.Khái niệm

Nợ phải trả là nghĩa vụ tài chính hiện tại mà đơn vị kế toán phải thanh toán bằng nguồn lực của mình.

Để được ghi nhận là nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán, một nghĩa vụ phải thỏa mãn các điều kiện: (1)Có khả năng tiền tệ hóa một cách đáng tin cậy; (2) Đơn vị phải thanh toán bằng nguồn lực của mình; (3) là kết quả của giao dịch quá khứ.

2.2.2. Phân loại Nợ phải trả

Căn cứ vào thời gian đáo hạn Nợ phải trả được chia thành Nợ phải trả ngắn hạn và Nợ phải trả dài hạn; Nếu căn cứ vào tiêu thức 1 năm thì những khoản nợ có thời gian thanh toán trong vòng 01 năm được phân loại là nợ phải trả ngắn hạn, những khoản nợ có thời gian thanh toán trên 1 năm được phân loại là nợ phải trả dài hạn.

2.3. Vốn chủ sở hữu

2.3.1.Khái niệm

Vốn chủ sở hữu là loại nguồn vốn thuộc sở hữu của đơn vị kế toán, đơn vị có quyền sử dụng lâu dài trong suốt thời gian hoạt động của đơn vị.

Vốn chủ sở hữu biểu thị phần giá trị tài sản ròng thuộc về chủ sở hữu. Trong quá trình hoạt động của đơn vị, vốn chủ sở hữu có thể tăng hoặc giảm do việc tăng (giảm) tài sản hoặc giảm (tăng) nợ phải trả. Do tính chất liên quan nên điều kiện ghi nhận vốn chủ sở hữu là sự kế thừa các điều kiện ghi nhận Tài sản, hoặc Nợ phải trả.

Trên phương diện tính toán, vốn chủ sở hữu được thể hiện như sau:

Vốn chủ sở hữu= Tài sản – Nợ phải trả

2.3.2. Các loại vốn chủ sở hữu

- Vốn góp của chủ sở hữu là phần vốn do chủ sở hữu đơn vị kế toán đầu tư vào đơn vị đó.

- Vốn chủ sở hữu cũng được hình thành từ kết quả hoạt động kinh doanh có hiệu quả của đơn vị.

- nguồn vốn chủ sở hữu khác là một phần vốn chủ sở hữu không thuộc hai nguồn vốn chủ sở hữu trên: nguồn kinh phí sự nghiệp, chênh lệch tỉ giá; chênh  lệch đánh giá lại tài sản

2.4.Thu nhập

2.4.1. Khái niệm và điều kiện ghi nhận thu nhập

Thu nhập là tổng giá trị các lợi ích kinh tế đơn vị kế toán thu được trong kỳ kế toán từ các hoạt động của đơn vị, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu một cách gián tiếp.

Thu nhập của đơn vị kế toán xác định cho từng kỳ kế toán và thỏa mãn các điều kiện:

-                     Có khả năng tiền tệ hóa một cách đáng tin cậy (tức là có thể lượng hóa dưới dạng tiền và giá trị được xác định một cách đáng tin cậy.

-                     Đơn vị kế toán thu được lợi ích kinh tế góp phần làm tăng gián tiếp vốn chủ sở hữu.

-                     Là kết quả hình thành từ giao dịch quá khứ

2.4.2. Các loại thu nhập

- Thu nhập thông thường là loại thu nhập được tạo ra từ hoạt động mang tính chất thường xuyên của đơn vị kế toán; bao gồm hoạt động chủ yếu và hoạt động tài chính.

- Thu nhập khác là loại thu nhập được tạo ra từ hoạt động khác của đơn vị kế toán (hoạt động không có tính chất thường xuyên của đơn vị: Thu nhập từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ,…)

2.5. Chi phí

2.5.1. Khái niệm và điều kiện ghi nhận Chi phí

Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế của đơn vị trong kỳ kế toán, góp phần giảm vốn chủ sở hữu một cách gián tiếp.

Chi phí của đơn vị kế toán phải được xác định cho từng kỳ kế toán cụ thể và thỏa mãn các điều kiện:

-                     Có khả năng tiền tệ hóa một cách đáng tin cây (lượng hóa được dưới dạng tiền và giá trị được xác định một cách đáng tin cậy)

-                     Giảm lợi ích kinh tế góp phần làm giảm gián tiếp vốn chủ sở hữu: tức là các giao dịch làm giảm tài sản này, nhưng tài sản khác không tăng, nợ phải trả không giảm => vốn chủ sở hữu không giảm trực tiếp. Hoặc Nợ phải trả này tăng nhưng Nợ phải trả khác không giảm, và Tài sản khôn